RSS

Nơi lưu giữ báu vật của làng

22 Mar

Nhiều năm trước, bao lần lên Bắc Giang công tác, tôi nghe tỉnh này có nơi là Yên Dũng và Lục Ngạn có nhiều người họ Phí sinh sống, nhưng chưa lần nào tôi đến thăm được. Mãi đến vừa rồi, Phí Đăng Nhị ở Liễu Đê, rồi nhà thơ Tô Hoàn, nhà văn Đỗ Nhật Minh ở Hội Văn nghệ Bắc Giang nói, sắp có ngày hội văn hóa các tỉnh vùng Đông Bắc, tôi vội vàng vác máy ảnh lên Bắc Giang và quyết chí về Liễu Đê huyện Yên Dũng, gặp bà con trong dòng họ.

Từ lâu tôi đã mê say mảng di sản Hán Nôm của Yên Dũng. Một huyện miền núi, trải qua bao cuộc bể dâu, mà ngày nay vẫn còn giữ được một lượng thư tịch cổ khá đồ sộ. Huyện còn tới 13 cuốn Địa bạ, 4 cuốn Hương ước, 17 cuốn tục lệ, 30 cuốn thần sắc, thần tích là chuyện không vừa. Riêng tại chùa Vĩnh Nghiêm, người ta cho biết, đã tìm được 30 bộ tài liệu khắc ván. Tỉnh Bắc Giang có 1298 bản khắc trên bia đá, thì Yên Dũng có tới 235 bản, có lẽ chiếm đến 1/6 số lượng văn bia. Ở huyện Yên Dũng này còn lưu giữ được một kho báu khác về Hán Nôm, đó là 111 bức hoành phi, chiếm 1/8 số hoành phi của tỉnh và 139 câu đối trên 1733 đôi câu đối toàn tỉnh. Nhưng có một điều đáng buồn là, cả tỉnh có hàng trăm dòng họ, nhưng cơ quan chuyên môn chỉ lưu giữ được có 11 cuốn gia phả, trong đó không có dòng họ Phí của tôi. Nghe tôi phàn nàn về sự thiếu hụt gia phả trong kho tàng Hán Nôm của tỉnh, và về cuộc truy tìm gia phả dòng họ của tôi, ông nhà văn gai góc Đỗ Nhật Minh kia mới kêu trời “Đúng là, Phí công em!”

Từ đầu cầu Xương Giang lách qua thanh chắn, theo bờ đê, tôi về Tân Liễu. Tân Liễu xưa có tên là Liễu Đê. Trên bản đồ, Tân Liễu nằm ở  Đông Bắc huyện lỵ Yên Dũng. Bắc giáp xã Tân Tiến, Nam giáp xã Nham Sơn, Đông giáp bờ sông Thương, bên kia sông là xã Xuân Phú, Tây giáp xã Đồng Sơn. Như vậy Tân Liễu được núi sông bao bọc. Sự kỳ diệu của mảnh đất này ở chỗ, dãy núi Nham Biền với chiều dài ba cây số có núi Vua Bà 99 ngọn, dốc đổ dồn xuống sông Thương, tạo cho Tân Liễu thế ỷ dốc về quân sự rất lợi hại. Lịch sử của Yên Dũng còn ghi lại rằng, từ hồi Lê Lợi vây thành Xương Giang, cũng như sau này nghĩa quân của Đề Thám, và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, du kích phối hợp với bộ đội chủ lực, đều lấy Tân Liễu làm bàn đạp, cũng như làm hậu cứ để đánh giặc. Trước tháng 8/1945, Tân Liễu tổng Phấn Sơn thuộc huyện Yên Dũng. Sau cách mạng, thành lập xã Phấn Liễu gồm các thôn Liễu Đê, Tân Độ và Làng Sơn. Năm 1949, thành lập xã Phấn Dũng. Năm 1954, cắt Làng Sơn về Đông Sơn, còn lại Tân Độ và Liễu Đê được gọi là Tân Liễu. Vật đổi sao dời là thế, nhưng Tân Liễu, tức là xã Liễu Đê xưa vẫn  giữ trong mình một lượng di sản Hán Nôm đến kỳ diệu, trong đó có những thông tin vô cùng quý giá, giúp ta tìm ra một làng quê hiếu học và có văn hiến, đặc biệt hơn  là  giúp chúng tôi xác định dòng họ Phí của tôi có mặt ở đây từ bao giờ.

Các cụ già họ Phí của làng Tân Liễu sốt ruột khi gần trưa chúng tôi mới đến. Nhưng, ai cũng hồ hởi. Cụ trưởng họ nói rằng, phải hàng trăm năm nay, bây giờ mới có người họ Phí nơi khác đến tìm họ ở Liễu Đê. Sau một hồi hàn huyên về sự phát triển của dòng họ, với vài chục cụ họ Phí có công với triều đình phong kiến, được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư; chuyện về 66 chi hội Phí đang sinh sống trong cả nước, tập trung đông nhất ở đồng bằng Bắc Bộ, tôi hỏi các cụ về dòng họ Phí ở Liễu Đê. Nghe tôi hỏi, tất cả im lặng. Mãi lâu cụ trưởng họ mới nói rằng, dòng họ Phí ở Liễu Đê đang sống ở ba làng quanh đây, có tới gần hai ngàn người, nhưng đông nhất vẫn là ở xã Tân Liễu này. Tiếng là ba làng, ba chi họ, nhưng thực chất là ba anh em. Nhưng… cả ba không ai có được gia phả gốc. Cả ba chi đều không biết dòng họ của mình từ đâu lên? Chữ đệm của họ Phí ở đây là Công và Đăng. Hôm xem VTV1 chiếu bộ phim “Phí Đăng Nhậm, người viết hương ước làng quê”, sau đó lại đi dự hội nghị toàn quốc “Họ Phí trong lịch sử dân tôc”, chúng tôi  ngợ mình có quê gốc ở Dương Liễu huyện Hoài Đức, Hà Tây (nay là Hà Nội), chứ xưa chúng tôi chỉ đoán mình quê ở đâu tít tận Thanh Hóa hay Hải Dương gì đó. Do nghèo, lại không có văn tự gì, các cụ xưa đã đi tìm vài lần, sau nản đành thôi.

Nỗi buồn của các cụ lây sang tôi từ khi nào chẳng biết. Tôi hỏi đình làng Liễu Đê có còn không? Tôi phải hỏi điều này, vì khi qua bao làng mạc ở đồng bằng Bắc bộ, tôi biết đình làng thường chưa nhiều bí mật về sự hình thành làng, và dòng họ… nhưng các cụ nói rằng “Đình làng xưa bị Tây đốt mất rồi, đình bây giờ, mới được xây lại”. Tôi hỏi, vậy còn tấm bia nào không? Các cụ bảo, còn một tấm, hồi 79, chiến tranh biên giới nhiều người bảo, “đây là của người Tàu để lại”, định cho vào nung vôi, vì họ sợ. Nghe đến não cả ruột, tôi liền nhờ các cụ đưa nhanh ra đình.

Đình mới làm sau năm 1947, ngay cạnh bờ đê, đã xập xệ. Trong đình chẳng có tài liệu gì giúp chúng tôi nghiên cứu cả. Có tấm bia đá bốn mặt, thì đặt ngay cạnh hố tiểu, lại đang bị rác vùi dần. Bia có ở đây bao lâu, không cụ nào biết. Một cụ biết đôi chữ nói rằng, trong này có ghi một vài người họ Phí, nhưng cũng chẳng biết các cụ ấy làm gì? Vạch chân tấm bia, tôi đọc được dăm dòng có ghi tên người của dòng họ Phí. Sang mặt khác, trên trán bia, tôi đọc được dòng chữ “năm Vĩnh Thịnh thứ 13”. Bỏ tất cả mọi việc, tôi lắp phim vào chụp bốn mặt của tấm bia đá. Thấy tôi mồ hôi nhễ nhại, nhưng cứ lăn ra mà chụp, có cụ hỏi tôi, chắc bia có ghi về dòng họ mình?

Chụp hết một cuốn phim, tôi hỏi cụ trưởng họ, người định cho đập phá tấm bia này còn sống không? Cụ nói, ông ta vẫn sống! Tôi báo cáo với các cụ, do điều kiện chưa cho phép, nên chưa nói được điều gì. Nhưng thưa các cụ, đây là pho sử của làng và các dòng họ, trong đó có họ Nguyễn và họ Phí. Nếu mất nốt những tấm bia này, làng không còn tài liệu lịch sử, và không ai có thể chứng mình được dòng họ của mình ở đây từ bao giờ. Một người có lẽ từng là cán bộ xã nói, hú vía, tý nữa phá nốt. Phải dựng lại tấm bia này ở cửa đình cho con cháu nó hiểu tổ tiên đã ở đây bốn trăm năm rồi, nếu không mai sau nó oán chết. Nghe ông này nói bâng quơ, tôi hiểu ông ta đang sám hối.

Đến chùa làng Liễu Đê, tôi lại chụp được một cuốn phim nữa về sáu tấm bia dựng tạm bên cạnh chùa, sư thầy trụ trì ở đây cho biết, nhà chùa đang cho sửa chùa, nhưng sẽ nhanh chóng dựng lại những tấm bia này. Tôi chỉ biết nói A di đà phật, nhưng bụng mong thầy sớm dựng lại nhà bia cho mưa nắng bớt bào mòn những dấu ấn lịch sử khắc trên bia. Thời gian không cho phép lang thang nữa, tôi lên một nhà của dòng họ, chụp thêm một số phim về hoành phi câu đối của gia đình rồi về Hà Nội.

Về đến nhà, tôi buông vội bát đũa, rồi lục tung đống tư liệu về Yên Dũng, đặc biệt là các tài liệu  Hán Nôm mà tôi lưu giữ. Gần 12 giờ đêm, tôi gọi cho Phí Đăng Nhị, đang ở Quảng Ninh. Thấy tôi gọi, Nhị hỏi tôi có việc gì mà khuya thế này còn điện. Tôi nói ơ rê ka, (tìm thấy rồi). Nhị hét toáng trong máy, tìm ra tổ tiên em rồi ư? Tôi trả lời: Ra rồi! Nhị nói, em điện về quê ngay bây giờ.

Qua tài liệu Hán Nôm lưu trữ được về Yên Dũng, tôi tìm ra nhiều tài liệu về văn hóa ở Liễu Đê, trong đó có thông nhiều thông tin liên quan đặc biệt đến dòng họ Phí ở đây.

Theo thần tích xã Liễu Đê, do các Hương lý xã Liễu Đê khảo cứu trình lên Hội khảo cứu phong tục ngày 24 tháng 3 năm 1938, thì làng có tên là Liễu Đê, tên Nôm là Hà Liễu, tổng Phấn Sơn huyện Yên Dũng. Làng thờ ba vị nhân thần là Kiêu San, tên húy là Sùng Công, là Nhân thần được ghi trong long sắc, ngài sinh ngày 10/3, hóa ngày 12/2 âm. Vị thần thứ hai là Quế Miêng, tên húy là Hiển Công, ngài là Nhân thần ghi trong long sắc, ngài sinh ngày 10/3, hóa ngày 10 tháng Giêng âm lịch. Đây là hai anh em ruột. Vị thần thứ ba cũng là Nhân thần, tên là Hiển Vinh Đại Vương. Vị Sùng Công, vị Hiển Công một vị đều có ba đạo sắc. Vị Hiển Vinh Đại Vương có hai đạo sắc.

Ngày 3 tháng Giêng nămg Tự Đức thứ ba, tức năm 1850, Hương lão, kỳ dịch cùng toàn dân xã Liễu Đê đã họp tại đình làm lại quyển tục lệ mới, vì quyển tục lệ cụ bị cháy. Quyển tục lệ mới có một số điều mà ngày nay cũng cần nghiên cứu như:

“Những ao hồ trong thôn và ngoài đồng, cấm không được cho người khác giăng  lưới đơm đó, người nào không tuân lệnh, tuần phiên bắt được quả tang, thưởng một quan tiền, phạt kẻ trộm 3 quan, còn việc giữ, phí tổn bao nhiêu kẻ trộm phải chịu, không tha.”

–  Tuần phiên nào bắt được kẻ trộm, ngầm thả ra, phát hiện phạt tuần phiên đó ba quan tiền.

–  Người nào ăn trộm tre xanh, lưới đó ở trong làng và ngoài đồng, người trong hương bắt được quả tang, bản thôn thưởng người ấy một quan, nếu ngầm thả ra, phạt một quan phí tổn canh giữ y lệ trước.”

Đọc đến đây, tôi so sánh lại với bản Hương ước làng quê, do tiến sĩ Phí Đăng Nhậm đời nhà Lê, quê làng Dương Liễu huyện Hoài Đức viết vào năm 1661, cách bản tục lệ làng Liễu Đê 189 năm, những quy định của hai làng quê tuy có khác nhau chút đỉnh, nhưng lại giống nhau về sự nghiêm ngặt đến thế? Tôi thầm nghĩ tới một văn bản mới đây của Đảng, khuyến khích các làng xây dựng Hương ước của làng mình. Và tôi càng cảm ơn ngành văn hóa Bắc Giang đã bảo tồn được một mảng màu văn hóa hay đến vậy.

Ở Liễu Đê còn có nhiều thư tịch Hán Nôm khác, nhưng may mắn cho dòng họ Phí và vài dòng họ khác của làng là ngành văn hóa đã bảo lưu được hai bản văn khắc của hai tấm bia, trong đó có ở thôn Giang hiện còn một tấm, còn tấm bia nữa , có lẽ nằm đâu đó dưới cái ao của làng. Đấy chính là hai tấm bia ghi lại bản sắc văn hóa của người Liễu Đê.

Nói đến hai tấm bia này, tôi là phải nhắc lại bản thần tích vừa nói đến ở trên vì nó liên quan đến phông văn hóa của dân làng. Dân làng Liễu Đê, cũng như những người dân nước Việt, đều rất coi trọng sự học, trọng nhân nghĩa, và rất công minh trong việc thưởng phạt. Ai có công, dân làng thưởng, ai có tội, dân làng phạt, hương ước làng Liễu Đê trích dẫn ở trên đã ghi rõ. Ba vị nhân thần mà dân làng Liễu Đê thờ năm 1938, chắc chắn đã được thờ từ trước đó hàng trăm năm rồi, họ phải là người có công với đất nước. nếu không thì chí ít cũng có công với làng, nên dân làng mới thờ làm Thành hoàng làng, và mới được các triều đại phong tới tám đạo sắc. Việc thờ cúng người có công này, chính là văn hóa ứng xử của người Kinh Bắc mà ở đây là cách đối xử với người có công của người dân Liễu Đê, đó chính là mặt bằng văn hóa của người dân Bắc Giang.

Về tấm bia “Nguyễn Thế gia lưu trạch bi” dựng ở đình xã Liễu Đê cho chúng ta nhiều thông tin quý giá. Trước hết nó cho chúng ta thấy tấm bia này được dựng vào năm 1717, cách đây 291 năm. Qua 291 năm, trải bao mưa nắng dãi dầu, thậm chí khi đăng bài viết này, có thể nó vẫn đang được dựng tạm bên hố tiểu, nhưng những nét chữ trên tấm bia vẫn còn sắc nét, chân phương, người biết vài chữ Trung Quốc thời nay vẫn có thể đọc được. Thế mới biết câu ca xưa “Trăm năm bia đá thì mòn” chỉ là ước lệ.

Thông tin thứ hai rất quan trọng đối với dòng họ Nguyễn ở đây là, dòng họ có một vị làm Điện tiền tiền trung dực Phó cai đội Thự vệ sử, Toàn trung hầu. Theo từ điển “Quan chức Việt Nam” của Phó giáo sư Đỗ Văn Ninh, thì ông họ Nguyễn này là Võ quan trong quân cấm vệ bảo vệ vua Lê Dụ Tông. Ông quan họ Nguyễn thấy thôn Giang xã Hà Liễu của mình có nhiều việc chi tiêu tốn kém đã cùng vợ là bà họ Lê đệm là Quý, cúng cho thôn 300 quan tiền cùng số ruộng có sản lượng là 100 gánh, 01 chiếc chiêng đồng để lấy tiền chi tiêu việc làng. Và vì thế dân làng bầu ông bà làm Hậu thần. Đây chính lại là nét văn hóa ứng xử của dân làng, đó là kết tinh của nền văn hóa Kinh Bắc.

Thông tin thứ ba cũng quan trọng không kém, đó là về người viết tấm bia. Dân gian có lời dạy, khôn viết văn tế, dại viết văn bia. Văn tế là để ca ngợi người đã khuất, vì thế có viết hay hơn công lao của người mất, thì cũng không ai trách mắng. Nhưng văn bia, nó tồn tại trước mắt mọi nguời, viết hay quá bị người đời coi là xu nịnh, viết dở, người đời dè bửu “văn như hũ nút, chữ như mù”. Vì thế người viết văn bia phải thực sự là người “văn hay chữ tốt”. Viết tấm văn bia này là người họ Đỗ, Đỗ Công Luận, là sinh đồ, tức là người có học. Không biết ông họ Đỗ này sau đó có làm giám sinh Quốc Tử Giám hay không, chứ vào năm 1717 ông đang là sinh đồ, là sinh đồ mà đã viết được văn bia, tồn tại đến ngày nay, chưa có bài viết nào chê bai, cho thấy ông là người có học và hay chữ.

Thông tin thứ tư cho thấy, trong thôn có nhiều dòng họ, nhưng có vài dòng họ đông người, là những họ có uy tín trong làng, đó là họ Đỗ, Nguyễn, Lê, Trần và Phí… Liên quan đến họ Phí, tôi sẽ nói kỹ ở phần sau. Nhưng cần nhấn mạnh là năm 1717 đã có ông Phí Đăng Tài và một số ông họ Phí khác được khắc vào bia. Các dòng họ này hiện vẫn tồn tại và phát triển, vẫn là dòng họ giữ được “nền văn hiến từ lâu” như Nguyễn Trãi từng viết.

Còn tấm bia thứ hai, hiện nay vẫn nằm đâu đó dưới một cái ao của làng, nó đánh dấu nhiều sự kiện, nhưng trước hết nó khẳng định, làng Liễu Đê xưa là một làng văn hiến.

Tấm bia ấy có nội dung thế này “Các sinh đồ Đỗ Công Luận, Phí Đăng Tiên… cùng những người trong văn hội thôn Giang, xã Hà Liễu, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, nhận thấy: Nền học vấn của xã rạng rỡ từ lâu, nhưng vẫn chưa có bia chỉ thờ tự của các vị tiên hiền. Vì vậy, nay cùng nhau dựng văn chỉ để theo dõi chế độ xưa, chấn hưng nền tư văn của xã. Ghi tên những Phủ sinh, sinh đồ và những người có chức vị khác ở địa phương, như:

–  Phủ sinh bản phủ Đỗ Tử Phương, Nguyễn Khắc Đồ.

–  Giám sinh Quốc Tử Giám Trần Đức Nghiệp, Phí Đăng Tài, hiệu Pháp Tín… khoảng 300 người…”

Ôi! Một áng văn ngắn gọn, giản dị mà thâm thúy, ân nghĩa đến thế, 241 năm sau đọc lên vẫn hừng hực không khí lều chõng, ghi danh một làng nghèo mà có tới 300 vị Tiên hiền, đủ để chứng minh, đây là một làng có học, một làng văn hiến. Nhưng bây giờ bia lại đang nằm đâu đó dưới ao sâu của làng? Không biết các dòng họ ở đây có biết ông tổ mười đời trước của mình là những Tiên hiền, sánh vai với hàng ngàn Tiên hiền khác đất Kinh Bắc, từng được khắc dựng trong văn chỉ của làng hay không? Ngâm mãi các vị Tiên hiền dưới ao như thế có nên hay không? Bao giờ các vị chức sắc làng Liễu Đê hôm nay, hậu duệ mười đời của các Tiên hiền thuở trước, mới cho người mò tấm bia này lên để chấn hưng sự học của làng, như cách đây gần ba trăm năm trước tổ tiên đã làm để cho dân làng nhanh thoát được cái cảnh, gặt xong rồi “Đồng nát đê”, “Đòn gánh tre chín rạn hai vai” suốt đời như bây giờ?

Trở lại tấm bia Tiên hiền ở Văn chỉ của làng có mấy thông tin quan trọng. Đó là bia được dựng vào năm 1767 đời vua Lê Hiển Tông trị vì. Khác với tấm bia “Nguyễn Thế Gia…” bốn mặt ở đình, bia Tiên hiền ở Văn chỉ có hai mặt, khổ 89×49 với 39 dòng khoảng 1000 chữ Hán, khắc chân phương. Trán bia trạm rồng chầu mặt trời. Ôi! Mới đọc như thế đã thấy người xưa làm văn hóa giỏi thật.

Tấm bia này cho ta chìa khóa để giải mã về các dòng họ ở làng Liễu Đê, trong đó có họ Phí. Ta thấy tấm bia Tiên hiền này tạo năm 1767, trong đó cụ Phí Đăng Tài đã có trong bia năm 1717, năm mươi năm sau, đến năm 1767 cụ là Giám sinh Quốc Tử Giám, tức là sinh viên của trường Đại học đầu tiên và duy nhất thời bấy giờ. Như vậy cụ Phí Đăng Tài phải hơn cụ Phí Đăng Tiên ít ra là 50 tuổi. Theo cách tính của các nhà gia phả học, thì cụ Tài là đời trên của cụ Tiên, giả sử đây là người một nhà, thì cụ Tài phải là bố của cụ Tiên, nếu không, phải là vai ông của cụ Tiên. Vì vậy việc họ Phí ở Liễu Đê lấy cụ Phí Đăng Tiên làm Thủy tổ là chưa đúng.

Theo tấm bia “Nguyễn Thế Gia…” còn ở đình, nó được khắc vào năm 1717, theo cách tính của các nhà gia phả học, thì cụ Tài phải sinh vào quãng năm 1687. Đây là một chi tiết quan trọng có liên quan đến một người họ Phí từng làm quan của Giám sát Ngự sử đài ở Kinh Bắc vào năm 1661, đó là Tiến sĩ Phí Đăng Nhậm.

Theo gia phả, và những sắc phong, lệnh chỉ của cụ Phí Đăng Nhậm ở làng Dương Liễu huyện Hoài Đức, Hà Nội còn lưu giữ được đến nay, cũng như theo cuốn “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 -1919” và cuốn “Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam”, thì cụ Phí Đăng Nhậm đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu niên hiệu Vĩnh Thọ 4 (1661) đời Lê Thần Tông, lúc đó cụ đã 43 tuổi. Sau khi đỗ, cụ được triều đình cử đi làm Giám sát Ngự sử cẩn sự lang đạo Kinh Bắc, sau đó được điều đi làm ở nơi khác. Đến ngày 18 tháng 3 năm Cảnh Trị thứ 3, tức là năm 1665 cụ lại nhận chỉ đi nhận chức Hiến sát sứ ty Hiến sát sứ, phụ trách Hiến ty ở Kinh Bắc đến năm 1667. Như vậy trong năm năm có hai lần, tổng cộng là ba năm, cụ làm quan ở đất Kinh Bắc.

Cho đến ngày nay, chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào về việc cụ Phí Đăng Nhậm có lấy bà vợ nào ở Kinh Bắc không? Ta cứ giả thiết là có, thì việc cụ Nhậm sinh ra bố ông Phí Đăng Tài là có cơ sở, vì các quan lại xưa đều năm thê, bẩy thiếp. Cụ Tài lại có tên trong bia vào năm 1767, đệm là Đăng thì giả thiết này là có lý. Giả thiết thứ hai có thể xảy ra là, khi lên làm quan ở đạo Kinh Bắc, cụ có mang theo gia binh, là người trong họ, vì thế cũng mang chữ đệm là Đăng, người đó đã lấy vợ và đẻ con, sinh cơ lập nghiệp ở Kinh Bắc, và về Liễu Đê – Yên Dũng lập làng. Cả hai giả thiết này cùng với việc chữ đệm là Đăng, cho ta thấy họ Phí ở Liễu Đê ngày nay, có nhiều khả năng từ Dương Liễu mà đi. Đó là những giả thiết nêu ra, mà đã là giả thiết thì có thể đúng, cũng có khi sai, chúng tôi cần phải tiếp tục tìm hiểu.

Còn bao nhiêu chuyện lịch sử của làng Liễu Đê, và các làng quê giàu chất thơ, đầy sự lãng mạn, đang nằm trong những tấm bia đá và các tư liệu Hán Nôm khác ở Liễu Đê và huyện Yên Dũng, chúng ta cần khai thác. Đó chính là báu vật của đời, của làng, của các dòng họ, đang được các cán bộ Bảo tàng trong ngành Văn hóa Bắc Giang gìn giữ. Chúng ta cảm ơn và vô cùng trân trọng công việc thầm lặng của những chiến sĩ Văn hóa Bắc Giang.

P.V.C

Nguồn: Tạp chí “Sông Thương” số 2 năm 2009 – Hội Văn học nghệ thuật Bắc Giang.

 
Leave a comment

Posted by on March 22, 2011 in Uncategorized

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: